Một thế kỷ nghiên cứu về trẻ song ngữ đi qua ba giai đoạn. Đầu thế kỷ hai mươi, nhiều công trình kết luận song ngữ làm trẻ kém thông minh, nhưng các công trình ấy đo sai. Năm 1962, nghiên cứu của Elizabeth Peal và Wallace Lambert ở Montreal lật lại kết luận. Từ những năm 2000, giới nghiên cứu bàn nhiều về lợi thế nhận thức của người song ngữ, và từ khoảng 2013 lợi thế ấy bị đặt câu hỏi nghiêm túc.
Điều đã chắc chắn hôm nay: song ngữ không gây hại cho phát triển ngôn ngữ và trí tuệ của trẻ. Điều còn tranh luận: song ngữ có làm trẻ giỏi hơn ở các kỹ năng kiểm soát chú ý hay không. Lợi ích vững nhất vẫn là chính việc biết hai ngôn ngữ, với mọi cánh cửa văn hoá và giao tiếp mà nó mở ra. Bài này đi qua từng giai đoạn, tóm tắt hiện trạng bằng chứng trong một bảng, và gợi ý cách đọc một tin tức "song ngữ làm con thông minh hơn".
Giai đoạn thứ nhất: song ngữ bị coi là gánh nặng
Từ những năm 1920 tới 1950, nhiều nghiên cứu ở Anh, xứ Wales và Mỹ so sánh trẻ song ngữ với trẻ đơn ngữ bằng các bài kiểm tra trí tuệ và ngôn ngữ, và phần lớn kết luận trẻ song ngữ kém hơn. Một công trình thường được nhắc là của D. J. Saer năm 1923 về trẻ nói tiếng Wales và tiếng Anh, cho rằng song ngữ gây "rối loạn tinh thần" ở trẻ. Kết luận này được trích dẫn rộng rãi và ảnh hưởng tới chính sách giáo dục cho trẻ nhập cư, trẻ dân tộc thiểu số ở nhiều nước.
Khi nhìn lại, các nghiên cứu này có ba lỗi lớn. Thứ nhất, nhóm trẻ song ngữ thường là con nhà nghèo, nhập cư hoặc ở nông thôn, còn nhóm đơn ngữ là con nhà khá giả ở thành thị; khác biệt về điều kiện sống bị đổ cho song ngữ. Thứ hai, trẻ được kiểm tra bằng ngôn ngữ mà các em còn yếu. Một đứa trẻ mới học tiếng Anh hai năm làm bài kiểm tra trí tuệ bằng tiếng Anh thì điểm thấp không nói lên trí tuệ. Thứ ba, khái niệm "song ngữ" không được định nghĩa rõ: trẻ vừa mới bắt đầu học và trẻ thành thạo cả hai ngôn ngữ bị gộp chung.
Bài học của giai đoạn này vẫn còn nguyên giá trị: một kết quả nghiên cứu chỉ đáng tin khi hai nhóm được so sánh thật sự tương đương, ngoại trừ yếu tố đang xét.
Bước ngoặt 1962: Peal và Lambert ở Montreal
Năm 1962, Elizabeth Peal và Wallace Lambert công bố nghiên cứu trên trẻ mười tuổi ở Montreal, Canada. Khác các công trình trước, hai tác giả chọn nhóm song ngữ Pháp – Anh thành thạo cả hai ngôn ngữ, và đối chiếu điều kiện kinh tế xã hội giữa hai nhóm. Kết quả bất ngờ với thời đó: trẻ song ngữ làm tốt hơn trẻ đơn ngữ ở nhiều bài kiểm tra, nhất là những bài đòi hỏi suy nghĩ linh hoạt và tư duy trừu tượng.
Nghiên cứu của Peal và Lambert cũng có giới hạn. Việc chọn chỉ những trẻ song ngữ thành thạo có thể đã chọn sẵn những trẻ có năng lực ngôn ngữ cao từ đầu; và quan hệ nhân quả vẫn chưa rõ, có thể trẻ giỏi thì dễ thành song ngữ hơn chứ không hẳn song ngữ làm trẻ giỏi. Hai tác giả tự thừa nhận điều này.
Dù vậy, công trình 1962 đã làm một việc quan trọng: chứng minh rằng khi so sánh công bằng, song ngữ không gắn với thiệt thòi trí tuệ. Từ đó, câu hỏi nghiên cứu đổi từ "song ngữ có hại không" sang "song ngữ ảnh hưởng tới tư duy thế nào". Mười năm sau, năm 1972, nghiên cứu của Anita Ianco-Worrall trên trẻ song ngữ Afrikaans – Anh ở Nam Phi cho thấy trẻ song ngữ hiểu sớm hơn rằng tên gọi của sự vật chỉ là quy ước, có thể đổi được.
Thí nghiệm St. Lambert và giáo dục nhập vai ở Canada
Năm 1965, một nhóm phụ huynh nói tiếng Anh ở thị trấn St. Lambert, ngoại ô Montreal, muốn con mình thành thạo tiếng Pháp, ngôn ngữ đa số của tỉnh Québec. Họ vận động mở một lớp mẫu giáo dạy hoàn toàn bằng tiếng Pháp cho trẻ nói tiếng Anh. Wallace Lambert và G. Richard Tucker theo dõi các lớp này qua nhiều năm và công bố kết quả năm 1972 trong cuốn Bilingual Education of Children: The St. Lambert Experiment.
Kết quả chính: trẻ học nhập vai đạt trình độ tiếng Pháp cao hơn hẳn trẻ học tiếng Pháp như một môn, và tiếng Anh của các em, sau một giai đoạn tạm chậm về đọc viết, bắt kịp trẻ học bằng tiếng Anh trong vài năm đầu tiểu học. Thành tích các môn khác cũng không bị ảnh hưởng. Mô hình nhập vai tiếng Pháp từ đó lan ra khắp Canada.
Bối cảnh của St. Lambert có điểm giống Việt Nam: trẻ nói ngôn ngữ đa số ở nhà và trong cộng đồng (tiếng Anh ở các khu đó), học ngôn ngữ thứ hai ở trường. Vì ngôn ngữ ở nhà được bảo đảm bởi gia đình và xã hội, việc dạy nhiều bằng ngôn ngữ thứ hai không làm mất ngôn ngữ thứ nhất. Đây là trường hợp song ngữ cộng điển hình. Tuy vậy, trẻ Canada sống trong một tỉnh mà tiếng Pháp có mặt ngoài đường phố, điều trẻ Việt Nam học tiếng Anh không có được.
Giai đoạn lợi thế điều hành và cuộc tranh luận hiện nay
Từ cuối thập niên 1990, nhà tâm lý học Ellen Bialystok ở Toronto công bố hàng loạt nghiên cứu cho thấy trẻ song ngữ làm tốt hơn ở những bài đòi hỏi kiểm soát chú ý, như phân loại thẻ theo một quy tắc rồi đổi sang quy tắc khác. Lời giải thích được đưa ra là người song ngữ luôn phải chọn một ngôn ngữ và ức chế ngôn ngữ kia, nên các chức năng điều hành của não được rèn luyện liên tục. Năm 2009, Ágnes Kovács và Jacques Mehler cho thấy cả trẻ bảy tháng tuổi lớn lên với hai ngôn ngữ cũng điều chỉnh dự đoán linh hoạt hơn trong một thí nghiệm. Năm 2007, nhóm của Bialystok báo cáo người song ngữ bị sa sút trí tuệ có triệu chứng xuất hiện muộn hơn khoảng bốn năm.
Từ năm 2013, nhiều nhà nghiên cứu đặt lại vấn đề. Kenneth Paap và Zachary Greenberg công bố loạt thí nghiệm với cỡ mẫu lớn không tìm thấy lợi thế nhất quán. Năm 2015, Angela de Bruin và cộng sự phân tích các báo cáo hội nghị và nhận thấy nghiên cứu có kết quả ủng hộ lợi thế được xuất bản nhiều hơn hẳn nghiên cứu không tìm thấy, dấu hiệu của thiên lệch xuất bản. Các phân tích gộp về sau, như của Minna Lehtonen và cộng sự năm 2018 trên người lớn, kết luận lợi thế, nếu có, rất nhỏ và không vững sau khi hiệu chỉnh thiên lệch.
Hiện trạng: cuộc tranh luận chưa ngã ngũ. Một số nhà nghiên cứu cho rằng lợi thế chỉ xuất hiện ở một số nhóm, một số bài kiểm tra, hay một số kiểu trải nghiệm song ngữ; số khác cho rằng nó không tồn tại như từng được mô tả.
Hướng nghiên cứu gần đây: song ngữ và hiểu người khác
Khi tranh luận về chức năng điều hành chưa ngã ngũ, một số nhóm chuyển sang câu hỏi khác: sống giữa nhiều ngôn ngữ có giúp trẻ hiểu góc nhìn của người khác tốt hơn không. Năm 2015, Samantha Fan, Zoe Liberman, Boaz Keysar và Katherine Kinzler cho trẻ bốn đến sáu tuổi làm một trò chơi trong đó trẻ phải hiểu người lớn đang nói về đồ vật mà người lớn ấy nhìn thấy, chứ không phải đồ vật chỉ trẻ thấy. Trẻ song ngữ, và cả trẻ chủ yếu nói một ngôn ngữ nhưng thường xuyên nghe ngôn ngữ khác quanh mình, làm tốt hơn trẻ đơn ngữ.
Lời giải thích được đề xuất là trẻ sống trong môi trường đa ngôn ngữ thường xuyên phải tự hỏi người này hiểu ngôn ngữ nào, muốn nói gì, nên quen để ý tới góc nhìn của người khác. Một hướng khác, của Krista Byers-Heinlein và Janet Werker năm 2009, cho thấy trẻ mười bảy, mười tám tháng tuổi song ngữ ít bám vào giả định "mỗi vật chỉ có một tên" hơn trẻ đơn ngữ, phù hợp với trải nghiệm mỗi ngày nghe hai tên cho cùng một thứ.
Những kết quả này thú vị nhưng còn mới và chưa được lặp lại rộng rãi như các phát hiện về phân biệt ngôn ngữ ở trẻ sơ sinh. Bài học từ cuộc tranh luận về chức năng điều hành là nên chờ thêm bằng chứng trước khi biến một phát hiện thành lời hứa.
Bảng hiện trạng bằng chứng: đâu là chắc, đâu là chưa
Bảng dưới đây xếp các nhận định thường gặp về trẻ song ngữ theo mức độ bằng chứng, dựa trên tổng quan nghiên cứu đã được công bố rộng rãi.
| Nhận định | Mức bằng chứng | Ghi chú |
|---|---|---|
| Song ngữ không gây hại cho trí tuệ | Chắc chắn | Được lặp lại qua nhiều thập kỷ khi so sánh công bằng |
| Song ngữ không gây chậm nói nếu đếm gộp hai ngôn ngữ | Bằng chứng mạnh | Mỗi ngôn ngữ riêng có thể thấp hơn trẻ đơn ngữ |
| Trẻ song ngữ phân biệt hai ngôn ngữ từ rất sớm | Bằng chứng mạnh | Từ sơ sinh, trước cả khi nói |
| Trẻ song ngữ hiểu sớm tên gọi là quy ước | Bằng chứng khá | Nhận thức siêu ngôn ngữ, nhiều nghiên cứu ủng hộ |
| Song ngữ tăng chức năng điều hành | Đang tranh luận | Kết quả không nhất quán, có dấu hiệu thiên lệch xuất bản |
| Song ngữ làm chậm sa sút trí tuệ khi về già | Đang tranh luận | Dữ liệu chủ yếu là nghiên cứu quan sát |
| Song ngữ làm tăng chỉ số IQ | Không có cơ sở | Không nên dùng làm lý do chọn chương trình |
Đọc bảng từ trên xuống, ta thấy những điều chắc chắn nhất đều nói về việc song ngữ không có hại. Những lời hứa về lợi ích vượt trên việc biết hai ngôn ngữ là phần ít chắc chắn nhất.
Đọc một tin "song ngữ làm con thông minh hơn" thế nào
Tin tức về nghiên cứu song ngữ xuất hiện thường xuyên, và nhiều tin bỏ qua phần giới hạn của nghiên cứu gốc. Vài bước sau giúp phụ huynh tự soi:
- Xem nghiên cứu làm trên ai: trẻ mấy tuổi, ở nước nào, song ngữ kiểu gì. Kết quả trên người lớn song ngữ Tây Ban Nha – Anh chưa chắc áp được cho trẻ Việt học tiếng Anh ở trường.
- Xem cỡ mẫu. Nghiên cứu với vài chục người dễ cho kết quả ngẫu nhiên; kết quả đáng tin hơn khi được lặp lại trên nhiều nhóm.
- Hỏi hai nhóm có tương đương không, nhất là về điều kiện kinh tế, học vấn của cha mẹ, văn hoá.
- Xem đo cái gì. "Thông minh hơn" trong tin tức thường là điểm một bài kiểm tra chú ý cụ thể, không phải trí tuệ chung.
- Tìm xem có phân tích gộp hay tổng quan nào về chủ đề đó, vì một nghiên cứu đơn lẻ hiếm khi đủ để kết luận.
Với việc chọn chương trình cho con, điều này có nghĩa là nên chọn song ngữ vì giá trị của việc biết hai ngôn ngữ, vì sự kết nối với nhiều nền văn hoá, và vì phương pháp phù hợp với con, chứ không vì lời hứa tăng trí thông minh. Global Nexus Education giới thiệu song ngữ khai phóng như một cách để trẻ dùng ngôn ngữ làm công cụ tư duy và giao tiếp, không phải một bài tập tăng IQ.
Câu hỏi thường gặp
Nếu lợi thế nhận thức đang bị tranh cãi, còn lý do gì cho con học song ngữ sớm?
Lý do chính chưa bao giờ bị tranh cãi: biết hai ngôn ngữ là một năng lực có giá trị tự thân, mở ra khả năng giao tiếp, học tập và hiểu nền văn hoá khác. Trẻ bắt đầu sớm trong môi trường tốt có nhiều năm tích luỹ hơn.
Nghiên cứu về trẻ song ngữ ở Việt Nam có nhiều không?
Phần lớn nghiên cứu kinh điển được làm ở Bắc Mỹ và châu Âu, với các cặp ngôn ngữ khác tiếng Việt. Nghiên cứu về trẻ Việt học song ngữ còn ít. Vì vậy khi áp kết quả, cần chú ý khác biệt về bối cảnh, như vị thế của tiếng Việt và lượng tiếp xúc tiếng Anh.
Thiên lệch xuất bản là gì?
Đó là xu hướng nghiên cứu có kết quả tích cực, gây chú ý, được công bố nhiều hơn nghiên cứu không tìm thấy gì. Khi đọc các bài đã công bố, người ta có thể tưởng hiện tượng mạnh hơn thực tế. Phân tích gộp có hiệu chỉnh giúp giảm sai lệch này.
Trẻ học tiếng Anh vài giờ mỗi ngày ở trường có được coi là song ngữ không?
Trong nghiên cứu, song ngữ là một phổ rộng, từ người hiểu chút ít đến người thành thạo cả hai. Trẻ học tiếng Anh ở trường đang trên con đường song ngữ, và mức độ phụ thuộc vào lượng, chất của tiếp xúc trong nhiều năm.
Song ngữ có giúp con học thêm ngôn ngữ thứ ba dễ hơn không?
Một số nghiên cứu cho thấy người song ngữ học ngôn ngữ thứ ba thuận lợi hơn đôi chút, có thể nhờ kinh nghiệm học ngôn ngữ và nhận thức về cấu trúc ngôn ngữ. Kết quả không đồng nhất và phụ thuộc vào ngôn ngữ cũng như cách học.